Nghệ thuật là gì? Bản chất của nghệ thuật được nhiều triết gia, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ thảo luận qua nhiều thế kỷ và có liên quan đến các yếu tố như sự sáng tạo, biểu đạt, và tương tác với người trải nghiệm. Theo [1], nghệ thuật bao hàm các khái niệm về kỹ năng, kỹ thuật, khả năng sáng tạo, hoặc trí tưởng tượng của con người và thay đổi theo thời gian. Ví dụ, nghệ thuật là sự mô phỏng (Art as Imitation) có nguồn gốc sâu xa trong triết học của Plato và Aristotle [2]. Nó mô tả một phạm vi rộng hơn, bao gồm bất kỳ hoạt động nào đòi hỏi kỹ năng, ví dụ làm thuốc, làm quân sự đều được hiểu là nghệ thuật.
Tại Việt Nam, có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, ca trù, múa rối nước, đờn ca tài tử, quan họ,…Các nghệ thuật truyền thống này đóng vai trò quan trọng trong di sản văn hóa của người Việt, không chỉ là phương tiện giải trí mà phải được bảo tồn và truyền đạt qua các thế hệ để duy trì nhận thức, tư tưởng về lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay loại hình nghệ thuật này ít được chú trọng trong giáo dục từ gia đình đến nhà trường và chưa đánh giá đúng tầm quan trọng ở góc nhìn giá trị nhân văn và di sản văn hóa của người Việt. Đó là dấu hiệu mai một và có lẽ cũng là nỗi niềm đau đáo của các thế hệ nghệ sĩ lớn tuổi. Tuy nhiên, theo ông Phạm Hữu Dực, “nghệ thuật truyền thống chắc chắn không bao giờ mất đi được vì nó đã trở thành văn hóa của cả một dân tộc, chỉ là lúc thịnh lúc suy, lúc nồng nhiệt lúc lại quá trầm xuống tưởng như biến mất” [3]. Sự xuất hiện của nhiều hình thức nghệ thuật mới ở Việt Nam như sắp đặt, trình diễn, chiếu sáng, pop art, video art… là minh chứng cho sự thay đổi cảm nhận về vẻ đẹp và tư duy của một thế hệ mới, đồng thời phản ánh sự ảnh hưởng của văn minh tiêu thụ, truyền thông đại chúng và xu hướng toàn cầu. Đối với công chúng, nghệ thuật vẫn còn là một thứ gì đó xa lạ, chỉ dừng lại ở mức thẫm mỹ đơn thuần, cái đẹp hình thức có tính trang trí, tính sử dụng mà “quên” đi cái đẹp lý tưởng cao cả, chạm tới những vấn đề phức tạp trong xã hội như tự do và giới tính, con người và bản năng, triết lý nhân sinh, ô nhiễm môi trường, chiến tranh bạo lực, đạo đức xã hội.
Tất cả những điều trên phản ánh rõ nét qua chính bản thân tôi như một ví dụ. Việc thưởng thức nghệ thuật và đời sống tinh thần còn rất nhiều hạn chế. Về văn học, tôi chủ yếu đọc các tác phẩm văn học việt nam, và nước ngoài sau giai đoạn năm 2000. Giai đoạn này thì con người thoát khỏi đói nghèo, chủ đề yêu nước hay chiến tranh không còn hấp dẫn. Xu hướng tôi tìm đọc ở tác phẩm văn học gợi mở tình yêu làng quê, tình yêu cuộc sống và những áng văn thường nhật, ví dụ như tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư hay tình yêu đôi lứa lãng mạn như “Ngày đầu tiên”, “Đêm đầu tiên”, “Cô gái cuối cùng của dòng họ Stanfield”…của Marc Levy. Về điện ảnh, tôi lại cảm thấy thú vị với tác phẩm điện ảnh với các chủ đề khoa học viễn tưởng, lịch sử hoặc ngôn ngữ. Ví dụ, phim “Arrival” gợi mở những suy tư về mối quan hệ giữa tư duy ngôn ngữ và thời gian phi tuyến. Phim “The Age of Adaline” lại gợi mở về một câu hỏi “bất tử có phải là một món quà hay không?”. Về hội họa, cũng như các môn nghệ thuật khác, tôi gần như không biết gì về nó. Tuy nhiên, để ý quan sát, không khó để nhận thấy rằng, khi bắt gặp một cảnh nào đẹp hay thú vị, người ta thường hay có xu hướng muốn chiếm hữu nó và sẽ chụp lại bằng điện thoại. Bận rộn chụp ảnh sẽ quên mất việc chiêm ngưỡng, thưởng thức vẻ đẹp mà ở một khoảnh khắc nào đó đã quyến rũ ta. John Ruskin bảo rằng có một thứ ta nên làm, “cố mà vẽ lại những điều thú vị tươi đẹp mà ta nhìn thấy, bất kể ta có chút tài năng vẽ vời nào hay không” [4].
Tài liệu tham khảo:
[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/Nghệ _thuật.
[2] Sách “Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật”, tác giả Cynthia Freeland.
[3] https://nhandan.vn/thap-lua-cho-nghe-thuat-truyen-thong-ky-1-post767860.html
[4] https://bookhunter.vn/tai-sao-ban-nen-ve-tranh-thay-vi-chup-anh/