THÁCH THỨC SÁNG TẠO
Tùng Nguyễn
Bạn có bao giờ tự hỏi “Tại sao Google, Meta, Apple lại mất vị thế dẫn đầu về công nghệ Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) vào các công ty mới nổi như OpenAI, Mistra AI?” hay “Tại sao Tesla lại vượt mặt các ông lớn trong ngành ô tô như General Motor, Toyota, Volkswagen,…ở lĩnh vực xe ô tô điện (Electric Vehicles)? hay “Tại sao doanh nghiệp danh tiếng, lâu đời không tận dụng những công nghệ đột phá mà họ đã dày công phát triển?”. Cuốn sách “Thách Thức Sáng Tạo” (The Innovator’s Dilemma) sẽ dẫn bạn đi vào một hành trình khám phá cách các công ty thành công có thể thất bại, mất đi vị thế dẫn đầu của mình trước sự thay đổi của công nghệ, đặc biệt là các công nghệ mang tính đột phá (Discruptive Innovation), ví dụ như công nghệ Mô hình ngôn ngữ lớn (Large language models), Công nghệ Pin xe điện Lithium-ion,… Clayton M Christensen, giáo sư Trường kinh doanh Harvard, đã sử dụng các ví dụ thực tế để minh họa Lý thuyết sáng tạo đột phá (Discruptive Innovation Theory) của mình, khiến cuốn sách trở nên hấp dẫn và mở mang tầm nhìn.
Qua nghiên cứu và phân tích các dữ liệu kỹ lưỡng, Christensen giải thích làm thế nào các công nghệ đột phá có thể làm dao động các ngành công nghiệp đã được thiết lập, tạo ra các nhà lãnh đạo mới và đẩy các doanh nghiệp khác tới bờ vực phá sản. Ông chỉ ra làm thế nào và tại sao nhiều tập đoàn lớn đã từng thống trị ngành công nghiệp phải rơi vào hoàn cảnh khó khăn do không thể thích ứng và đổi mới trước sự thay đổi công nghệ. The Innovator’s Dilemma không chỉ dành cho các chuyên gia kinh doanh, mà còn dành cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu thêm về vai trò của đổi mới trong cuộc sống của chúng ta. Nó nhấn mạnh sự quan trọng của việc liên tục kiểm tra tình trạng hiện tại và thách thức các giả định. Các nguyên tắc của sự sáng tạo được tác giả đề xuất.
- Nguyên tắc 1: Xét về các nguồn lực, công ty lệ thuộc vào khách hàng và nhà đầu tư.
- Nguyên tắc 2: Thị trường nhỏ không giải quyết được các nhu cầu tăng trưởng của công ty lớn.
- Nguyên tắc 3: Không thể phân tích những thị trường chưa tồn tại.
- Nguyên tắc 4: Năng lực của một tổ chức cũng xác định các khuyết tật của nó.
- Nguyên tắc 5: Lượng cung công nghệ có thể không ngang bằng với nhu cầu thị trường.
Hãy tự chiêm nghiệm về 5 nguyên tắc này, bạn sẽ khám phá cách công nghệ đột phá tác động đến sự tồn tại, thịnh vượng của tổ chức. Gần đây, cái chết của gã khổng lồ công nghệ Yahoo do mất vị thế công cụ tìm kiếm vào tay Google cũng có thể được hiểu khi sử dụng lý thuyết này để phân tích. Trong thời đại với sự trổi dậy và dẫn dắt bởi công nghệ, đây là lý thuyết đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng.
Lý thuyết sáng tạo đột phá được phát triển bởi Clayton M Christensen khi ông xuất bản cuốn sách Thách thức sáng tạo hơn 20 năm trước. Lý thuyết này truyền tải nhiều thông điệp mới mẻ đến các nhà quản lý sáng tạo. Trong đó, ông giải thích lý do tại sao hầu hết các công ty dẫn đầu lại bỏ lỡ những làn sóng đổi mới mang tính đột phá. Tại sao duy trì thành công lại khó đến thế? Ông phát hiện rằng, hầu hết các công ty đã từng thành công nhờ vào “việc làm giỏi nhất những thực hành tốt nhất” (the best practitionners of best practice), mà nó xuất phát từ các nguyên tắc quản lý được giảng dạy tại các trường kinh doanh, đều gần như thất bại sau một hay hai thập kỷ. Paul Steinberg, Chief Technology Officer tại Motorola Solutions bày tỏ sự sợ hãi của mình khi lần đầu đọc cuốn sách này. Có thể, Steinberg không phải là người duy nhất cảm thấy điều này. Thế tiến thoái lưỡng nan nằm ở một loại hình mà tác giả gọi là công nghệ đột phá. Sau khi đọc sách, xin tóm tắt 3 điểm tâm đắc.
Thứ nhất, sự ra đời của công nghệ mới luôn là động lực chính cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Điều này tương đồng với khái niệm “Sự tàn phá mang tính sáng tạo” (Creative Destruction) của nhà kinh tế học Joseph Schumpeter. Nó gợi ý rằng muốn làm một điều gì đó hoàn toàn mới, bạn phải phá bỏ cái cũ. Christensen đã phát kiến ra khái niệm “công nghệ đột phá” nhằm phân biệt với “công nghệ duy trì”, lý giải nghịch lý sự sụp đổ của các công ty dẫn đầu thị trường. Công nghệ duy trì luôn lắng nghe nhu cầu của thị trường hiện tại, tiếp tục thúc đẩy cải tiến, nâng cao hiệu suất của các sản phẩm tiêu chuẩn trên thị trường. Công nghệ đột phá lại bắt đầu với hiệu suất thấp hơn, đơn giản hơn so với những yêu cầu của thị trường, thậm chí không có thị trường khi công nghệ này xuất hiện. Ngày nay, chúng ta chứng kiến nghịch lý các nhà sản xuất ô tô lớn, dẫn đầu thị trường ở các cường quốc công nghệ cao như Đức, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc nhưng tụt hậu trong lĩnh vực xe ô tô điện so với các doanh nghiệp mới nổi ở Trung Quốc (ví dụ, BYD).
Thứ hai, lý thuyết về sự phụ thuộc tài nguyên hay phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence). Lý thuyết này cho rằng công ty hoạt động trong giới hạn của những thực thể bên ngoài tổ chức (ví dụ, nhu cầu khách hàng và nhà đầu tư). Những thực thể này cung cấp cho tổ chức các nguồn lực cần thiết để tồn tại. Điều này gợi ý rằng có một sự kìm chế vai trò “tuyệt đối” nhà quản lý đối với sự tồn tại, thịnh vượng của tổ chức. Tác giả viết “nhà quản lý không có khả năng thay đổi lộ trình phát triển của công ty theo hướng trái ngược với mệnh lệnh của khách hàng”. Thật không may, điều này khó có thể áp dụng với các công nghệ đột phá, vốn thường nhìn vào nhu cầu của khách hàng tương lai, những nhu cầu mà họ thường chưa biết đến. Để giải quyết vấn đề này, tác giả đề ra giải pháp là công ty có thể tạo ra một tổ chức độc lập và nhắm đến các khách hàng mới, ngay cả khi quy mô thị trường còn rất nhỏ.
Cuối cùng, phương pháp thẩm định năng lực và khuyết tật của tổ chức. Hầu hết các nhà quản lý tin rằng nếu cá nhân những người làm việc trong một dự án đã có năng lực cần thiết làm tốt một công việc thì tổ chức cũng sẽ có năng lực để thành công. Điều này dường như ít khi đúng đối với hầu hết các trường hợp vì “bản thân tổ chức cũng có năng lực”. Năng lực này được tác giả khái quát hóa thành một khung mẫu bao gồm ba yếu tố: nguồn lực, quy trình và hệ giá trị của tổ chức. Khung mẫu này có khả năng đánh giá, thẩm định những gì tổ chức có thể làm được, những gì tổ chức không thể làm được hay các khuyết tật [1]. Dựa trên khung năng lực này, nhà quản lý có thể ra các quyết định như tự phát triển các công nghệ đột phá hay mua bán sáp nhập với các tổ chức khác đã có sẵn năng lực yêu cầu.
“The Innovator’s Dilemma” đã phải đối mặt với một lượng lớn sự phê bình và tranh cãi. Một điểm quan trọng được cho là lý thuyết quá tập trung vào lĩnh vực công nghệ, điều này làm hạn chế tính phổ quát của nó đối với các ngành công nghiệp khác. Ngoài ra, có những lo ngại rằng lý thuyết sáng tạo đột phá trong sách đơn giản hóa quá mức những phức tạp của động lực kinh doanh và có thể không hoàn toàn đánh giá đúng các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự đảo lộn trên thị trường. Còn bạn nghĩ sao?