VỞ KỊCH GIÁNG HƯƠNG
Tùng Nguyễn
Nghệ thuật nhạc kịch còn khá xa lạ đối với tôi ở cả khía cạnh giá trị văn hóa truyền thống nói chung, cũng như giá trị thưởng thức đời sống tinh thần và năng lực văn hóa nói riêng. Từ trước tới giờ, tôi chỉ xem sân khấu kịch như phương tiện giải trí và không gì hơn. Tuy nhiên, ở khoảnh khắc khi Lê Khánh (vai “Giáng Hương”), đứng đối diện với khán giả, và cũng đối diện với tôi, nói “nghệ thuật phải thật và đẹp”, tôi vô cùng xúc động bởi đây có lẽ là tuyên ngôn nghệ thuật ngắn ngọn, đơn giản nhưng sâu sắc đối với tôi. Trong diễn từ nhận giải Nobel văn chương năm 1970, nhà văn Alexandr Solzhenitsyn có nói: “Nghệ thuật hé mở cho chúng ta, tuy lờ mờ, tuy ngắn ngủi, những điều không thể nào đạt được bằng lý trí”. Tại thời điểm hiện tại, đối với tôi, vai trò của nghệ thuật chính là ở những điều không bao giờ đạt được bằng lý trí bởi vì từ trước tới giờ tôi luôn đề cao và có niềm tin tuyệt đối vào lý tính.
Vở nhạc kịch “Giáng Hương”, được NSƯT Thành Lộc dựng thành kịch nói, có nguyên gốc là vở cải lương “Sân khấu về khuya” của cố soạn giả, NSND Nguyễn Thành Châu. Tác phẩm khơi gợi sự giằng co, đấu tranh giữa “Nghệ thuật vị nhân sinh” và “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nghệ thuật vị nhân sinh hướng tới mục đích làm nghệ thuật, tới chức năng của nghệ thuật. Tiêu biểu là nhân vật Lĩnh Nam với quan điểm nghệ thuật dần thay đổi khi trở thành đạo diễn, bầu sô. Ông muốn thực hiện vở “Nữ hoàng hộp đêm”, để chạy theo thị hiếu của khán giả mới. Còn nghệ thuật vị nghệ thuật hướng đến thuộc tính và giá trị nội tại của nghệ thuật với nhân vật tiêu biểu là Giáng Hương, cô đào hát nổi tiếng với quyết tâm thực hiện vở “Huyền Trân công chúa” để tôn vinh giá trị đích thực của nghệ thuật. Sự giằng co càng thêm gây cấn khi cuộc tranh luận của hai nhân vật Lĩnh Nam và Giáng Hương lên đến đỉnh điểm. Cô đào hát cho rằng “tất cả những gì nghệ sĩ có đều nhờ có công chúng nên họ phải có trách nhiệm với công chúng”. Lĩnh Nam cay đắng đáp lại “Tôi bạc bẽo, vô ơn? Không, tôi đã và đang làm việc hằng ngày như con tằm rút ruột nhả tơ. Công chúng tạo ra tôi? Sai, cha mẹ tạo ra tôi chứ. Công chúng cho tôi cái tên? Trật, chính tôi tạo ra cái tên Lĩnh Nam bằng tài năng của mình. Nếu chúng ta hay, công chúng sẽ ủng hộ; nếu chúng ta dở, họ sẽ quay lưng”.
Khi nhắc đến đạo làm người, làm nghề trong bối cảnh hiện nay, tôi ví von nó giống như sự giằng co giữa “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh” của người làm nghề “nghệ thuật”. Sống, làm đúng với bản chất nghề nghiệp hay theo đuổi lợi ích, giá trị vật chất mà nghề nghiệp mang lại. Ngày nay, không khó để nhận ra có lẽ “vị nhân sinh” đang thắng thế, nhưng không vì thế mà bi quan vì sự thắng thế này chỉ mang tính thời cuộc mà thôi.
Nghệ thuật sân khấu tối giản, mang tính ước lệ, chú trọng nhiều vào lời thoại của nhân vật, đã tạo ra không gian cho nghệ sĩ thỏa sức phô diễn thực lực. Tôi cảm nhận nghệ sĩ đã dồn hết tâm quyết vào nhân vật, bất kể vai lớn hay vai nhỏ. Tuy không có nhiều đất diễn nhưng tôi vẫn ấn tượng với nhân vật ông Ba Hoài (do NSƯT Hữu Châu đóng), nhất là đoạn ông và chị Sáu (nghệ sĩ Hoàng Trinh đóng) ngồi trên hai cái ghế hát bài Phụng hoàng 12 câu, xung quanh là những người trẻ chăm chú lắng nghe. Ông Ba Hoài đại diện cho thế hệ đi trước lầm đường lạc lối. Chị Sáu đại diện cho khán giả yêu nghệ thuật. Các nghệ sĩ trẻ đại diện cho thế hệ trẻ. Nhân vật Ba Hoài không có trong nguyên tác “Sân khấu về khuya” nhưng được đạo diễn NSƯT Thành Lộc đưa vào nhạc kịch như một nhân tố để vực dậy tinh thần ‘vị nghệ thuật” của Giáng Hương. Khi NSƯT Hữu Châu (vai ông Ba Hoài) cầm chiếc đàn kìm và cất lên tiếng hát “bãi gió ghềnh trăng,..”, tôi cảm thấy vô cùng xúc động, cả khán phòng đều vỗ tay. Một vài khán giả lớn tuổi đã không kìm được nước mắt. Tôi nghĩ họ khóc vì nhớ đến một thời đã qua, một thời của “nghệ thuật vị nghệ thuật”.